Bài 2: Nghị quyết mở đường cho khát vọng vươn mình
Ngoài mục tiêu mở rộng diện tích, ngay khi triển khai Nghị quyết 11 tại cơ sở, mỗi cán bộ, đảng viên và nhân dân đã xác định phải chuyển trọng tâm từ “trồng được bao nhiêu” sang “trồng thế nào để hiệu quả”; gắn trồng cây với giống, kỹ thuật, hạ tầng, liên kết và thị trường; đồng thời từng bước đưa công nghệ lên nương, nâng năng suất, giảm chi phí và mở ra phương thức sản xuất hiện đại hơn.
Nêu gương để chủ trương thành hành động
Sau cơn mưa, khu vườn của anh Thào Văn Xiêng, Bí thư Chi bộ bản Ta Pao, xã Mường Mùn phủ một màu xanh mướt. Những hàng mắc ca trồng từ năm 2023 đã vươn tán, xen giữa là cây cà phê vừa bén rễ. Với anh Xiêng, khu vườn không chỉ là sinh kế của gia đình mà còn là mô hình để người dân trong bản nhìn thấy hiệu quả và làm theo.
Bí thư Chi bộ Thào Văn Xiêng cho biết: Từng đảm nhiệm nhiều công việc tại cơ sở, tôi hiểu rõ tập quán sản xuất cũng như tâm lý e ngại của người dân khi chuyển sang cây trồng mới. Vì thế, khi xã có chủ trương chuyển đổi diện tích sản xuất kém hiệu quả sang trồng cà phê, mắc ca, tôi và các đảng viên đã vận động người thân trong gia đình trồng cây mới. Mỗi năm, gia đình tôi trồng thêm vài trăm cây, đến nay đã có hơn 700 cây mắc ca và 12.500 cây cà phê. Quá trình trực tiếp đầu tư, chăm sóc giúp tôi nắm rõ những khó khăn về vốn, giống, kỹ thuật, thời vụ để hướng dẫn người dân sát thực tế hơn.
Cũng tại Ta Pao, đảng viên Quàng Văn Vượng, người có uy tín trong bản trồng hơn 2,5ha gồm 8.100 cây cà phê và 600 cây mắc ca. Nhận thấy đường lên khu sản xuất lầy lội, gây khó khăn cho việc vận chuyển giống, phân bón, ông đứng ra vận động các hộ cùng làm đường lên nương. Mỗi gia đình đóng góp 200 nghìn đồng mua vật liệu và trực tiếp tham gia thi công. Với sự chung sức của 85 hộ, tháng 4/2026, tuyến đường bê tông dài 700m, rộng 1m được hoàn thành; bản dự kiến tiếp tục làm thêm 500m trong tháng 9. Tuyến đường tuy nhỏ nhưng đã giải quyết đúng khó khăn của người dân, tạo thuận lợi cho việc chăm sóc, vận chuyển vật tư và mở rộng vùng cây.
Từ mô hình của Bí thư Chi bộ Thào Văn Xiêng, Chi bộ Ta Pao đã thống nhất ban hành nghị quyết chuyên đề, phân công đảng viên phụ trách từng nhóm hộ. Theo đó, mỗi đảng viên có trách nhiệm vừa tuyên truyền, vừa hướng dẫn kỹ thuật, theo dõi quá trình trồng và chăm sóc. Khi phát sinh khó khăn trên nương, người dân biết rõ cán bộ nào chịu trách nhiệm hỗ trợ. Đến nay, tất cả hộ dân trong bản Ta Pao đã tham gia trồng cà phê, mắc ca; số hộ nghèo giảm còn 29 hộ. Chủ trương chuyển đổi cây trồng không còn nằm trong những cuộc họp mà đã hiện diện trên từng khoảnh nương và trong kế hoạch sản xuất của mỗi gia đình.
Tinh thần cán bộ, đảng viên đi trước cũng được thể hiện tại xã Nà Bủng. Theo ông Trần Đình Nhuận, Bí thư Đảng ủy xã Nà Bủng: Năm 2026, tỉnh giao xã Nà Bủng trồng 10ha cây chủ lực; địa phương chủ động bổ sung thêm 29ha và đã hoàn thành toàn bộ kế hoạch. Bên cạnh diện tích do xã vận động, người dân tự trồng khoảng 100ha các loại cây cho thấy sự chuyển biến rõ rệt trong nhận thức và nhu cầu phát triển sản xuất.
Bí thư Đảng ủy xã Trần Đình Nhuận chủ động trồng 3ha, xây dựng mô hình cà phê xen mắc ca. Việc kết hợp các loại cây có chu kỳ sinh trưởng và giá trị khác nhau vừa tận dụng đất, vừa phân tán rủi ro, tạo cơ sở để theo dõi hiệu quả trước khi vận động người dân nhân rộng.
Ở các địa phương, đặc biệt là vùng sâu, vùng xa biên giới như Ta Pao hay Nà Bủng, sức thuyết phục không đến từ những lời vận động chung chung. Khi cán bộ, đảng viên trực tiếp bỏ vốn, bỏ công, cùng trải qua những khó khăn của sản xuất, người dân có thêm căn cứ để lựa chọn. Những mô hình ban đầu giúp địa phương đánh giá loại cây nào phù hợp, kỹ thuật nào cần điều chỉnh và quy mô nào có thể phát triển bền vững.
Không chạy theo diện tích
Kết quả bước đầu tại cơ sở là minh chứng cho thấy định hướng cơ cấu lại nông nghiệp theo tinh thần Nghị quyết 11 trên phạm vi toàn tỉnh dựa vào hai loại cây chủ lực mắc ca và cà phê là sáng suốt. Cụ thể hóa nghị quyết, tháng 3/2026, UBND tỉnh ban hành Kế hoạch số 1850/KH-UBND về trồng mới cà phê, mắc ca và thử nghiệm mô hình phát triển kinh tế không gian tầm thấp. Riêng năm 2026, Điện Biên đặt mục tiêu phát triển 12.000ha cà phê, mắc ca; đồng thời giao chỉ tiêu tới từng địa phương dựa trên cơ sở khí hậu, thổ nhưỡng, quỹ đất, hạ tầng và khả năng tổ chức sản xuất.
Mường Ảng, Quài Tở, Mường Mùn, Pú Nhung, Chiềng Sinh, Xa Dung… là các xã được định hướng phát triển vùng cà phê quy mô lớn. Với mắc ca, vùng trọng điểm tập trung tại các xã: Na Son, Mường Luân, Mường Nhà, Tuần Giáo, Quài Tở, Mường Mùn, Pú Nhung, Chiềng Sinh, Sín Thầu, Mường Nhé… Các địa bàn còn lại phát triển theo quy mô phù hợp với điều kiện thực tế.
Ông Lê Xuân Cảnh, Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường cho biết: Quan điểm xuyên suốt trong thực hiện Nghị quyết mà tỉnh chỉ đạo đến cơ sở là mở rộng diện tích phải đi cùng tổ chức lại sản xuất. Về cây giống phải được kiểm soát chất lượng, quy trình kỹ thuật áp dụng thống nhất; vùng trồng từng bước được số hóa, cấp mã số và truy xuất nguồn gốc. Doanh nghiệp, hợp tác xã cần tham gia từ khâu đầu tư, hướng dẫn kỹ thuật đến thu mua, chế biến.
“Không thể lấy diện tích trồng mới làm thước đo duy nhất. Cây phải phù hợp với điều kiện từng địa bàn, sinh trưởng tốt và có đầu ra ổn định. Mỗi vùng nguyên liệu cần được tính toán đồng bộ với giao thông, nước tưới, sơ chế, chế biến và thị trường”- ông Cảnh nhấn mạnh.
Tại Búng Lao, ngoài diện tích tỉnh giao (gần 770ha cà phê, mắc ca trồng mới trong năm 2026) người dân còn tự trồng thêm 400ha, nâng tổng diện tích cà phê trồng mới lên 800ha. Trước thực tế đó, xã đã phải cử cán bộ chuyên môn về từng bản hướng dẫn người dân lựa chọn giống, chuẩn bị đất, xuống giống và chăm sóc đúng quy trình. Ông Trương Hồng Bách, Chủ tịch UBND xã Búng Lao nói rằng: Nhân dân chủ động mở rộng diện tích là tín hiệu tích cực, nhưng xã không đặt mục tiêu tăng diện tích bằng mọi giá mà cần nhất là việc trồng mới phải gắn với chất lượng bảo đảm quy hoạch vùng trồng.
Song Phương
Bài 4: Khát vọng "trái ngọt" vươn xa