Ưu tiên đúng đối tượng, sát nhu cầu thực tế
Góp ý về nguyên tắc lựa chọn doanh nghiệp được nhận hỗ trợ tại khoản 5 Điều 5 dự thảo Luật, đại biểu Lò Thị Luyến, Phó Trưởng Đoàn ĐBQH tỉnh đề nghị nghiên cứu lại thứ tự áp dụng giữa nguyên tắc về thời điểm nộp hồ sơ và nguyên tắc ưu tiên các nhóm doanh nghiệp đặc thù.
Theo đại biểu, nếu chỉ căn cứ vào thời điểm nộp hồ sơ, doanh nghiệp có điều kiện tiếp cận thông tin và hạ tầng số thuận lợi sẽ có ưu thế hơn doanh nghiệp ở vùng sâu, vùng xa, miền núi, biên giới. Trong khi đó, mục tiêu của Luật là hỗ trợ có trọng tâm, trọng điểm, trong đó có các nhóm yếu thế và doanh nghiệp tại địa bàn khó khăn. Vì vậy, cần bổ sung doanh nghiệp do người dân tộc thiểu số làm chủ vào nhóm được ưu tiên, bảo đảm thống nhất với Điều 17 dự thảo Luật.
Đối với chính sách hỗ trợ tiếp cận mặt bằng sản xuất tại Điều 10, đại biểu nhất trí với chủ trương hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa, nhưng đề nghị làm rõ cơ chế thực hiện khi địa phương không có đủ quỹ đất hoặc không có doanh nghiệp đáp ứng điều kiện thuê, thuê lại đất.
Đại biểu phân tích, tại các địa phương miền núi, biên giới, nhu cầu mặt bằng sản xuất của doanh nghiệp có thể phân tán, quy mô nhỏ, không nhất thiết tập trung tại các khu công nghiệp, cụm công nghiệp lớn. Nếu quy định cứng tỷ lệ diện tích đất mà không gắn với nhu cầu thực tế, có thể dẫn đến tình trạng đất đã bố trí nhưng không có doanh nghiệp thuê, trong khi doanh nghiệp vẫn thiếu mặt bằng phù hợp. Từ đó, đại biểu đề nghị giao UBND cấp tỉnh xác định diện tích đất cụ thể căn cứ nhu cầu thực tế, quy hoạch, quỹ đất và khả năng thu hút doanh nghiệp.
Bảo đảm quyền lợi người lao động, chú trọng liên kết doanh nghiệp
Về chính sách bảo hiểm đối với doanh nghiệp chuyển đổi từ hộ kinh doanh, đại biểu Lò Thị Luyến đề nghị làm rõ cơ chế đóng bảo hiểm xã hội linh hoạt và các điều kiện giảm mức đóng bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, bảo đảm quyền lợi người lao động và cân đối các quỹ bảo hiểm.
Đối với chính sách ưu tiên doanh nghiệp ở miền núi, biên giới, hải đảo và doanh nghiệp do phụ nữ, người khuyết tật, người dân tộc thiểu số làm chủ, đại biểu đề nghị làm rõ tiêu chí xác định đối tượng thụ hưởng; bổ sung doanh nghiệp nhỏ và vừa sử dụng nhiều lao động là người dân tộc thiểu số vào nhóm được ưu tiên hỗ trợ.
Tham gia ý kiến, Thượng tọa Thích Đức Thiện, ĐBQH tỉnh đề nghị bổ sung cơ chế hỗ trợ, liên kết giữa doanh nghiệp lớn với doanh nghiệp nhỏ và vừa, tạo điều kiện để doanh nghiệp nhỏ và vừa tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị, quá trình sản xuất và mở rộng thị trường quốc tế. Theo đại biểu, các chính sách hỗ trợ về thuế, vốn, đất đai là cần thiết, nhưng cần có thêm cơ chế để doanh nghiệp lớn thực sự dẫn dắt, hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa tiếp cận khoa học, công nghệ, nâng cao năng lực quản trị và phát triển thị trường.
Đại biểu lấy ví dụ từ các ngành công nghiệp ô tô, đường sắt tốc độ cao, cho rằng doanh nghiệp lớn cần được thiết kế cơ chế ưu đãi đi kèm trách nhiệm hỗ trợ các doanh nghiệp nhỏ và vừa tham gia chuỗi cung ứng, phát triển công nghiệp phụ trợ. Đây là giải pháp thiết thực để doanh nghiệp nhỏ và vừa từng bước nâng cao năng lực cạnh tranh và phát triển bền vững.
Từ đó, Thượng tọa Thích Đức Thiện đề nghị cơ quan soạn thảo nghiên cứu sửa đổi Điều 22 theo hướng: “Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa liên kết với doanh nghiệp lớn, tham gia chuỗi giá trị và mở rộng thị trường, hoạt động kinh doanh quốc tế”.
Phân định rõ thẩm quyền, bảo đảm thống nhất giữa các luật
Về thẩm quyền của HĐND và UBND cấp tỉnh tại Điều 10 và Điều 26, đại biểu Lò Thị Luyến đề nghị tiếp tục rà soát để phân định rõ thẩm quyền ban hành chính sách với thẩm quyền quyết định cụ thể một số chế độ, tiêu chuẩn, định mức chi ngân sách.
Theo đại biểu, cần bảo đảm thống nhất với Luật Tổ chức chính quyền địa phương, Luật Ngân sách nhà nước và các cơ chế đặc thù đã được Quốc hội ban hành. Đặc biệt, Nghị quyết số 198/2025/QH15 đã quy định trực tiếp thẩm quyền của UBND cấp tỉnh đối với một số nội dung hỗ trợ đầu tư và xác định diện tích đất dành cho doanh nghiệp thuộc đối tượng hỗ trợ.
Đối với chính sách ưu tiên doanh nghiệp nhỏ và vừa tham gia mua sắm sử dụng ngân sách nhà nước tại Điều 12, đại biểu đề nghị làm rõ cách xác định tỷ lệ tối thiểu 20% tổng giá trị mua sắm hằng năm dành cho doanh nghiệp nhỏ và vừa. Theo đó, cần phân biệt giữa giá trị các gói thầu doanh nghiệp được tham gia và giá trị hợp đồng thực tế được trao; đồng thời bổ sung phương án xử lý khi không có đủ doanh nghiệp đáp ứng yêu cầu, tránh ảnh hưởng đến tiến độ, chất lượng và hiệu quả mua sắm công.
Đối với chính sách hỗ trợ doanh nghiệp chuyển đổi từ hộ kinh doanh tại Điều 20, đại biểu nhất trí với việc đơn giản hóa thủ tục đăng ký, hỗ trợ kế toán, thuế, chuyển đổi số và nâng cao năng lực quản trị. Tuy nhiên, quy định về mô hình tổ chức quản lý công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên do cá nhân làm chủ sở hữu cần được rà soát để bảo đảm thống nhất với Luật Doanh nghiệp.