ĐBP - Dù không phải là cây trồng truyền thống song cà phê và mắc ca được đánh giá phù hợp thổ nhưỡng, giá trị kinh tế vượt trội và được Điện Biên lựa chọn đầu tư, coi là cây trồng chủ lực trong chiến lược cơ cấu lại ngành Nông nghiệp. Với mục tiêu mở rộng phát triển trên địa bàn 45 xã, phường, Nghị quyết số 11-NQ/TU ngày 31/12/2025 của Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Điện Biên khóa XV mở ra không gian sản xuất mới; gắn mở rộng vùng nguyên liệu với ứng dụng công nghệ, liên kết chuỗi, chế biến sâu và xây dựng thương hiệu sản phẩm từ cây trồng chủ lực này. Đây là bước chuyển từ sản xuất nhỏ, lẻ sang kinh tế nông nghiệp hàng hóa, xanh, thông minh, bền vững; mang theo khát vọng làm giàu của người nông dân và quyết tâm vươn lên của Điện Biên trong giai đoạn phát triển mới.
Bài 1: Hành trình từ cây giảm nghèo đến cây chủ lực
Gần ba thập kỷ trước, những cây cà phê đầu tiên được các gia đình thanh niên lập nghiệp gieo trồng trên vùng đất khó dưới chân đèo Tằng Quái. Hơn 20 năm sau, mắc ca tiếp tục bén rễ trên những sườn đồi Tuần Giáo dưới chân đèo Pha Đin. Vượt qua nhiều mùa thiên tai, mất giá và cả những hoài nghi ban đầu, hai loại cây từng mang theo hy vọng thoát nghèo dần khẳng định sự phù hợp với điều kiện tự nhiên, mở rộng sinh kế cho người dân và trở thành cây trồng chủ lực trong chiến lược phát triển nông nghiệp hàng hóa của Điện Biên.
Gieo xanh dưới chân đèo
Giữa những vườn cà phê xanh mướt dưới chân đèo Tằng Quái, Làng Thanh niên lập nghiệp Ẳng Nưa (nay thuộc xã Mường Ảng) đã mang một diện mạo mới. Những ngôi nhà khang trang nối nhau bên nương cà phê trĩu quả; đời sống người dân ngày càng ổn định. Ít ai hình dung gần ba thập kỷ trước, nơi đây từng là vùng đất khô cằn, đón những gia đình thanh niên dân tộc Mông đến lập nghiệp với hành trang ít ỏi và khát vọng thoát nghèo.
Chậm
rãi đi giữa những hàng cà phê đã gắn bó với gia đình gần 30 năm, ông Lầu Chồng
Lử, bản Na Luông, xã Mường Ảng nâng từng cành cây, quan sát những chùm quả đang
chín. Ở tuổi 60, ông thuộc từng mùa cây ra hoa, kết trái và nhận ra cả những
thay đổi nhỏ nhất của khu vườn sau mỗi đợt mưa nắng. Với ông, cà phê không đơn
thuần là cây trồng tạo thu nhập. Mỗi gốc cây còn lưu giữ ký ức về hành trình
rời quê, vượt qua đói nghèo và gây dựng bản làng trên vùng đất mới. Tháng 4/1998, ông Lử cùng 12 gia đình từ các bản: Hua Sa A, Hua Sa B (xã Tỏa Tình, huyện Tuần Giáo cũ) đến Ẳng Nưa theo chương trình thanh niên lập nghiệp do Tỉnh đoàn Lai Châu (nay là Tỉnh đoàn Điện Biên) triển khai. Gần 60 người rời quê mang theo công cụ lao động và chút lương thực với mong ước tìm được nơi an cư.
Nhờ sự hỗ trợ của Tỉnh đoàn và người dân địa phương, các gia đình cùng dựng nhà, khai phá đất làm nông nghiệp. 26ha cà phê đầu tiên được đưa vào trồng với kỳ vọng tạo sinh kế lâu dài. Vốn quen phát nương, các hộ phải học lại từ cách đào hố, đặt cây đến chăm sóc, dẫn nước tưới. Thế nhưng ba năm sau, khi vườn cây vừa xanh tốt, một đợt sương muối khiến hàng chục héc-ta cà phê vàng úa, nhiều cây chỉ còn trơ cành. Trước đói nghèo và thiên tai, 7 trong số 12 gia đình đã trở về quê cũ.
Không nản lòng, ông Lử cùng một số hộ dân khác như ông Lầu Vả Mua, Mùa A Tòng, Lầu A Lếnh vẫn kiên định bám đất. Họ vun lại từng gốc cây, tìm nguồn nước tưới, kiên trì khôi phục vườn cà phê. Chẳng phụ công người, đến năm 2004, những nương cây cà phê đồng loạt chín đỏ. Vụ thu hoạch đầu tiên vừa được mùa vừa được giá đã đền đáp 6 năm nhọc nhằn, mở ra con đường thoát nghèo cho những gia đình ở lại.
Từ 26ha ban đầu, cây cà phê dần được người dân mở rộng diện tích tới các khu vực lân cận. Người dân Tỏa Tình, Pú Nhung tìm đến học hỏi, xin giống cây trồng rồi nhiều gia đình từng rời làng cũng quay lại lập nghiệp.
Qua nhiều năm gắn bó với người dân, cà phê đã chứng minh khả năng thích nghi với điều kiện khí hậu, thổ nhưỡng của địa phương, từ cây trồng tạo sinh kế, góp phần giảm nghèo trở thành cây chủ lực của xã Mường Ảng. Hiện nay, toàn xã có gần 1.700ha cà phê, sản lượng quả tươi bình quân đạt khoảng 16.500 tấn mỗi năm; riêng năm 2025, sản lượng cà phê trấu đạt 3.300 tấn.
Từ những cây cà phê đầu tiên được gieo trồng bằng khát vọng thoát nghèo, sau gần ba thập kỷ, Mường Ảng đã hình thành vùng sản xuất hàng hóa tập trung. Hành trình ấy cho thấy một cây trồng mới muốn bén rễ trên vùng đất khó cần sự kiên trì của người dân, sự đồng hành của cấp ủy, chính quyền và thời gian để khẳng định hiệu quả. Bài học từ những nương cà phê dưới chân đèo Tằng Quái tiếp tục được viết trên các sườn đồi dưới chân đèo Pha Đin, khi người dân Tuần Giáo mạnh dạn đưa cây mắc ca vào trồng, mở thêm hướng sinh kế mới.
Mở lối cho mắc ca bén rễ
Khác với người nông dân ở Làng Thanh niên Ẳng Nưa khi trồng loại cây mới, ông Là Văn Chanh người dân tộc Thái ở bản Pha Làng, xã Tuần Giáo lại là người chủ động đi tìm mua cây giống mắc ca về trồng sau nhiều năm đã trồng đủ các loại cây mà không thoát nghèo.
Kể về ngày đầu trồng cây, ông Là Văn Chanh vẫn nhớ: Tháng 4/2013, khi mắc ca là cái tên xa lạ với phần lớn người dân Tuần Giáo nói riêng, Điện Biên nói chung thì ông Chanh đã lặn lội đi tìm mua 200 cây giống vì nghe người ta nói "cây này khỏe, dễ chăm sóc, giá trị kinh tế cao lại được thu nhiều năm", trong khi thực tế ông chưa một lần nhìn thấy cây mọc như thế nào. Bởi vậy, khi đem 200 cây mắc ca về trồng ông Chanh đã bị không ít người hàng xóm tỏ ra hoài nghi, cho rằng đây là loại cây "lạ đất", khó có thể bén rễ và đem lại hiệu kinh tế. Nhưng bỏ mặc, ông Chanh tỉ mẩn đào hố, bón phân lót rồi đặt cây vun gốc đúng hướng dẫn của nhà vườn. Chưa đầy một tuần sau, các cây ông trồng bắt đầu nhú lá non khiến ông Chanh mừng rơi nước mắt.
Sau vài ba năm trồng, mắc ca bắt đầu ra hoa, cho quả bói trong khi ông Chanh vẫn chưa có thêm hiểu biết gì về cách chăm cây sau thu quả và không biết gì về thị trường tiêu thụ loại quả này. Tìm số điện thoại gọi người bán cây giống, mãi lúc ấy ông Chanh mới biết mắc ca có nhiều giống khác nhau; cây ông mua trồng thuộc giống 788. Từ đó, ông Chanh tiếp tục dành thời gian tìm hiểu, bổ sung các giống A38, 849, 816, 246... để từng bước thay thế giống hiệu quả hơn.
Nhớ lại thời điểm thu hái mắc ca trước, ông Chanh trầm ngâm: "Đến năm thứ 7, thứ 8, vườn mắc ca bắt đầu cho quả tương đối ổn định. Nhưng cũng đúng lúc ấy, giá mắc ca biến động mạnh. Từ 100 nghìn đồng/kg quả tươi giảm xuống 70 nghìn đồng, 50 nghìn đồng; có thời điểm chỉ còn 30 nghìn đồng/kg. Giá quả mắc ca tươi tụt nhanh quá khiến ông Chanh như người bị ngã nước chơi vơi khi nghĩ lại những lần cầm dao tự phá vườn cây mắc ca. Nhưng sau nhiều đêm trằn trọc, ông đã tìm được lời giải. "Mắc ca là cây cho thu hoạch nhiều năm, giá quả phụ thuộc giá thị trường thế giới thì năm cao năm thấp là giá chung, cho nên không vì giá thấp mà chặt cây" - ông Chanh nhớ lại.
Và chính nhờ hiểu đúng giá trị cây mắc ca, ông Chanh đã kiên tâm giữ vườn suốt hơn chục năm qua. Hiện tại gia đình ông có 1ha mắc ca (khoảng 280 cây), cho nguồn thu mỗi năm hơn 150 triệu đồng.
Nhận thấy hiệu quả vườn cây mắc ca của gia đình ông Chanh, nhiều gia đình cùng bản Pha Làng đã tìm mua cây giống về trồng. Đến nay, riêng bản Pha Làng đã có 70 gia đình trồng hàng chục héc ta; còn xã Tuần Giáo có hàng nghìn hộ trồng tới gần nghìn héc-ta loại cây tỷ đô này.
Cũng như hành trình của cây cà phê dưới chân đèo Tằng Quái, mắc ca ở Tuần Giáo đã phải đi qua nhiều năm thử nghiệm, hoài nghi và biến động thị trường để minh chứng khả năng thích nghi trên đất Điện Biên. Tuy nhiên, thực tiễn cũng đặt ra nhiều vấn đề mới. Diện tích tăng nhanh nhưng sản xuất phân tán; chất lượng giống và kỹ thuật canh tác chưa đồng đều; liên kết giữa người dân, hợp tác xã và doanh nghiệp chưa chặt chẽ. Vùng nguyên liệu ở một số nơi chưa gắn với cơ sở chế biến, trong khi phần lớn sản phẩm được bán dưới dạng thô nên giá trị thu về còn hạn chế. Từ những cây cà phê được giữ lại sau mùa sương muối đến những vườn mắc ca vượt qua thời kỳ mất giá, hành trình của người dân đã chứng minh tiềm năng của hai loại cây trên đất Điện Biên. Song để tiềm năng ấy trở thành động lực phát triển lâu dài, cần một quyết sách mở đường cho khát vọng vươn mình.
Song Phương
Bài 2: Nghị quyết mở đường cho khát vọng vươn mình