Vụ mùa thường tiềm ẩn nhiều yếu tố bất lợi, điều kiện thời tiết nóng ẩm, mưa nắng xen kẽ cũng tạo môi trường thuận lợi để nhiều đối tượng sinh vật gây hại phát sinh. Do đó, việc khảo nghiệm và trình diễn các giống mới không chỉ giúp đánh giá khả năng thích nghi với điều kiện tự nhiên của địa phương mà còn tạo thêm lựa chọn cho nông dân trong bối cảnh sản xuất chịu nhiều tác động của biến đổi khí hậu.
Theo kế hoạch sản xuất vụ mùa năm 2026, toàn tỉnh gieo cấy 21.290ha lúa. Để hoàn thành mục tiêu, ngành nông nghiệp chỉ đạo các địa phương bố trí cơ cấu mùa vụ hợp lý, lựa chọn giống phù hợp với từng vùng sinh thái, đồng thời tăng cường công tác dự tính, dự báo sâu bệnh, hướng dẫn nông dân áp dụng đồng bộ các biện pháp kỹ thuật trong sản xuất.
Bên cạnh những giống chủ lực đã khẳng định hiệu quả, việc đưa các giống mới vào sản xuất được xem là hướng đi quan trọng nhằm đánh giá khả năng thích nghi, bổ sung nguồn giống chất lượng và tạo thêm lựa chọn cho nông dân trong bối cảnh sản xuất chịu nhiều tác động của biến đổi khí hậu.
Vụ mùa năm nay, xã Chà Tở gieo cấy 232,15ha lúa nước và 222,12ha lúa nương. Địa phương lựa chọn cơ cấu giống theo hướng ưu tiên các giống có năng suất, chất lượng cao, chống chịu tốt với điều kiện bất lợi của thời tiết như ADI28, Đài Thơm 8, VRN20, Bắc Thịnh, ST24, ST25, BC15, Nhị ưu 838, Nếp 97, Nếp 87 cùng một số giống nếp, tẻ địa phương. Lúa nương tiếp tục sử dụng giống tẻ đỏ địa phương, nếp nương Điện Biên, nếp tan Mường Phăng.
Xã cũng chỉ đạo nông dân thực hiện gieo cấy theo phương châm “một vùng, một giống, một thời gian”, tạo điều kiện thuận lợi cho việc chăm sóc, phòng trừ sâu bệnh đồng loạt, đồng thời mở rộng ứng dụng cơ giới hóa trong sản xuất.
Nhằm thúc đẩy chuyển giao tiến bộ khoa học kỹ thuật, từ nguồn kinh phí hỗ trợ theo Nghị định số 112/2024/NĐ-CP của Chính phủ, xã Chà Tở triển khai mô hình trình diễn 13ha giống lúa TBR97 và Bắc Hương 9 tại bản Phiêng Luông.
Theo chị Bùi Thị Hải, cán bộ Trung tâm Dịch vụ tổng hợp xã Chà Tở, đây là những giống có năng suất, chất lượng cao, phù hợp với điều kiện tự nhiên và tập quán sản xuất của địa phương. Mục tiêu của mô hình không chỉ là đánh giá khả năng thích nghi của giống mà còn giúp người dân tiếp cận các tiến bộ khoa học kỹ thuật, từng bước thay đổi phương thức canh tác, giảm chi phí đầu tư, nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm và gia tăng hiệu quả kinh tế
114 hộ tham gia mô hình được hỗ trợ giống, hướng dẫn quy trình kỹ thuật từ khâu làm đất, gieo cấy, bón phân cân đối đến chăm sóc và quản lý sâu bệnh theo hướng an toàn, hiệu quả.
Tham gia mô hình, anh Khoàng Văn Khiếm, bản Phiêng Luông cho biết việc được tiếp cận giống mới và hướng dẫn quy trình kỹ thuật bài bản giúp gia đình yên tâm hơn trong sản xuất. Nếu giống lúa sinh trưởng tốt, chống chịu sâu bệnh và cho năng suất cao, gia đình sẽ tiếp tục mở rộng diện tích trong các vụ tiếp theo.
Vụ mùa năm nay, xã Nậm Kè dự kiến gieo cấy khoảng 330ha. Tranh thủ thời tiết thuận lợi, bà con tập trung nhân lực xuống đồng làm đất, gieo cấy đúng khung thời vụ.
Nhiều giống lúa có năng suất, chất lượng cao, chống chịu tốt với điều kiện canh tác của địa phương đã được người dân lựa chọn đưa vào sản xuất. Chính quyền địa phương phối hợp với ngành chuyên môn tăng cường chuyển giao quy trình kỹ thuật gieo cấy, chăm sóc, quản lý dịch hại tổng hợp và áp dụng các biện pháp canh tác tiên tiến nhằm ứng phó với những diễn biến bất thường của thời tiết, hướng tới mục tiêu nâng cao năng suất và chất lượng hạt gạo.
Mới đây, Công ty Cổ phần Tập đoàn ThaiBinh Seed đã đề nghị phối hợp xây dựng mô hình trình diễn hai giống lúa TBR16 và TBR19 trên địa bàn tỉnh. Trong đó, TBR19 là giống lúa thuần có nhiều ưu điểm nổi bật như bông to, dài, số hạt trên bông lớn, cây cứng, khả năng chống đổ tốt. Kết quả sản xuất tại nhiều địa phương ngoài tỉnh cho thấy giống đạt từ 200 - 300 hạt trên mỗi bông, năng suất bình quân từ 70 - 75 tạ/ha.
Với thời gian sinh trưởng trong vụ mùa từ 100 - 110 ngày ở điều kiện khí hậu miền Bắc, TBR19 được đánh giá phù hợp với khung thời vụ của tỉnh, đồng thời có khả năng thích ứng khá tốt với điều kiện thời tiết diễn biến thất thường. Việc đưa các giống này vào khảo nghiệm sẽ giúp ngành chuyên môn có thêm cơ sở đánh giá khả năng sinh trưởng, chống chịu sâu bệnh và năng suất trước khi xem xét nhân rộng trong những vụ tiếp theo.
Ở các xã vùng cao, nơi điều kiện sản xuất còn nhiều khó khăn và nguy cơ thiếu nước, việc lựa chọn giống lúa phù hợp càng có ý nghĩa quan trọng. Ngoài mục tiêu nâng cao năng suất, các giống mới còn phải đáp ứng yêu cầu chống chịu hạn, chống đổ ngã, thích nghi với điều kiện canh tác và hạn chế thiệt hại do sâu bệnh gây ra.
Tại xã Núa Ngam, 185 hộ dân bản Ta Lét và Na Sang đã đăng ký tham gia mô hình sản xuất giống Nếp 97 theo hướng hữu cơ. Để dễ quản lý sinh vật gây hại, Trung tâm Dịch vụ tổng hợp xã triển khai ở mỗi bản 1 mô hình. Nếp 97 là giống lúa nếp thuần cảm ôn ngắn ngày đã được người dân khu vực lòng chảo Mường Thanh gieo trồng nhiều năm với ưu điểm như cây cứng, chống đổ tốt, khả năng chống chịu sâu bệnh khá, phù hợp với điều kiện sản xuất vụ mùa. Do đó không chỉ cho năng suất ổn định mà còn góp phần giảm chi phí đầu vào, nâng cao giá trị sản phẩm.
Hiện nay toàn bộ diện tích gieo cấy nếp 97 ở bản Ta Lét và Na Sang đang vào giai đoạn tỉa giặm. Mô hình thành công sẽ mở hướng sản xuất lúa hữu cơ, cải thiện chất lượng đất, giảm thiểu số lượng phân bón hóa học và thuốc bảo vệ thực vật, thay đổi tập quán canh tác cũ, lạc hậu, hướng tới sản xuất bền vững.
Những dự báo về thời tiết bất lợi và nguy cơ phát sinh sâu bệnh trong vụ mùa năm nay tiếp tục đặt ra yêu cầu cao đối với công tác chỉ đạo sản xuất của các địa phương và ngành nông nghiệp.
Cùng với việc theo dõi chặt chẽ diễn biến thời tiết, chủ động phòng, chống thiên tai và dịch hại, việc mở rộng khảo nghiệm, trình diễn, đưa các giống lúa mới vào sản xuất sẽ góp phần hoàn thiện cơ cấu giống, nâng cao khả năng thích ứng với biến đổi khí hậu.
Bình Nguyên