Theo con thuyền lướt trên mặt hồ sông Đà trong veo một sớm lặng gió, bến Huổi Só 2 hiện ra trong vẻ trầm mặc, dịu dàng. Dòng sông từng dữ dội với ghềnh thác, nay thành mặt nước hiền hòa, xanh biếc như tấm gương lớn soi bóng núi rừng. Những dãy núi nối nhau trùng điệp, mây bảng lảng quấn quýt trên đỉnh non, thấp thoáng phía chân núi là những mái nhà nép mình bên sườn dốc. Giữa không gian ấy, bản làng như một nét chấm phá mộc mạc mà quyến rũ. Đưa tay giới thiệu cảnh quan nơi đây, anh Phàn A Póng, Trưởng bản Huổi Só 2 cho biết: Thôn hiện nay có 99 hộ dân, chủ yếu là đồng bào Dao quần chẹt sinh sống. Từ trên cao nhìn xuống, bản nhỏ ẩn hiện trong màu xanh cây lá, khói bếp mỏng bay trong chiều muộn. Xa xa, từng dải mây lững thững trôi qua sườn núi khiến cả không gian như một bức tranh sơn thủy còn nguyên nét hoang sơ.
Người ta ví Huổi Só 2 như một “sơn nữ mỹ miều còn e ấp”, bởi vẻ đẹp nơi đây không ồn ào phô bày mà thầm lặng, duyên dáng, càng ở lâu càng thấy vấn vương. Ở bản nhỏ bên lòng hồ ấy, nhịp sống dường như trôi chậm theo nhịp sóng. Bao đời nay, người dân sống dựa vào núi rừng, lên nương trồng lúa, trồng sắn, chăn nuôi gia súc. Phụ nữ ngoài việc nương rẫy vẫn cần mẫn thêu thùa, may vá, gửi vào từng đường kim nét chỉ những sắc màu văn hóa Dao. Có lẽ vì thế, Huổi Só 2 không chỉ níu chân du khách bằng cảnh sắc, mà còn bởi hơi thở đời sống rất thật. Đó là bữa cơm quây quần bên bếp lửa, tiếng trẻ con nô đùa ven nước, là buổi chiều ngồi nghe sóng vỗ mạn thuyền, nghe người già kể chuyện bản, chuyện người Dao quần chẹt vượt sông Đà thuở trước đi tìm đất sống, khai sơn lập bản. Là chiều chiều thong dong buông cần bên mép nước, chờ cá cắn câu giữa mênh mang sóng biếc.
Ngồi trên thuyền, nghe người lái đò thong thả kể chuyện núi bên mình, mình bên núi thành bạn, mới thấy vùng đất này chất chứa biết bao lớp trầm tích văn hóa. Nếu lưu lại dài ngày, du khách có thể thưởng thức ẩm thực vùng cao, hoặc thử một đêm cắm trại trên đảo nhỏ giữa lòng hồ, đốt lửa, câu cá, chờ bình minh lên trên mặt nước. Những trải nghiệm tưởng chừng giản dị ấy lại làm nên sức hấp dẫn riêng của Huổi Só 2... Từ ngày nước dâng mênh mông, cuộc sống người dân cũng đổi thay theo con nước. Nếu trước kia sinh kế chủ yếu bám nương rẫy thì nay nhiều người chuyển sang làm nghề sông nước, đánh bắt, chở thuyền, nuôi trồng thủy sản. Đàn ông trai tráng làm nghề sông nước; phụ nữ trồng ngô, sắn trên nương. Núi là kho cơm áo, nước là sinh mệnh, họ âm thầm cần mẫn mưu sinh dưới chân núi, bên dòng sông.
Mặc dù vậy, thôn Huổi Só 2 vẫn có tỷ lệ hộ nghèo cao; địa hình chủ yếu đồi núi dốc, chia cắt khiến giao thông khó khăn, giao thương hàng hóa chậm phát triển. Nhận thức người dân chưa đồng đều, việc ứng dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất, chăn nuôi còn nhiều trở ngại; có thời điểm người dân chưa kịp nắm bắt các chính sách hỗ trợ của Nhà nước. Từ thực tế đó, địa phương đang từng bước tìm hướng đi mới. Ngoài khoanh vùng chuyển đổi cây trồng, trồng rừng tạo nguồn thu, xã tận dụng lòng hồ sông Đà phát triển nuôi cá lồng. Hướng đi này đang mở ra một sinh kế nhiều kỳ vọng.
Gia đình anh Vàng A Sơn là một trong những điển hình. Từ vài lồng cá ban đầu, đến nay gia đình anh phát triển lên 16 lồng nuôi cá trắm, chép, rô phi. Mỗi năm, sau khi trừ chi phí, thu nhập đạt trên 170 triệu đồng. Anh Vàng A Sơn chia sẻ: Muốn thoát nghèo phải thay đổi tư duy, không thể chỉ phụ thuộc vào nương rẫy mà phải biết chăn nuôi, biết tính chuyện làm ăn. Mô hình nuôi cá của anh Sơn cũng là hướng đi đang mở ra trên vùng sông nước này.
Từ chuyển đổi cây trồng, trồng rừng, mở rộng lúa ruộng đến khuyến khích phát triển nuôi cá lồng, Huổi Só 2 đang từng bước tìm lời giải cho bài toán sinh kế. Những nỗ lực ấy có thể chưa tạo ra đổi thay lớn trong ngày một ngày hai song đang mở ra con đường đi lên cho bản nhỏ ven sông. Chiều xuống, những con thuyền trở về, khói bếp bắt đầu lên từ các mái nhà dưới chân núi; trong sự bình yên ấy là nhịp chuyển động bền bỉ của những con người đang lặng lẽ vươn lên.
Bài, ảnh: Mai Phương