ĐBP - Sau sáp nhập, xã Thanh Nưa có không gian sản xuất đa dạng, từ những cánh đồng vùng thấp của lòng chảo Mường Thanh đến vùng cao biên giới có điều kiện phát triển cây lâu năm. Khai thác lợi thế từng vùng, xã đang lựa chọn cây trồng, vật nuôi phù hợp, từng bước hình thành sinh kế ổn định, nâng cao thu nhập cho người dân.
Thanh Nưa được hình thành trên cơ sở sáp nhập 5 xã Hua Thanh, Thanh Nưa, Thanh Luông, Thanh Hưng và Thanh Chăn, có diện tích tự nhiên gần 17.696ha, dân số hơn 29.000 người, với 38,8km đường biên giới tiếp giáp Lào. Điều kiện sản xuất giữa vùng thấp và vùng cao khác nhau, tạo cho Thanh Nưa nhiều dư địa phát triển nông nghiệp.
Ở vùng thấp, lợi thế rõ nhất là đất sản xuất tương đối bằng phẳng, hệ thống thủy lợi và kinh nghiệm thâm canh lâu năm. Riêng vụ Đông Xuân 2025 - 2026, toàn xã gieo cấy 1.114,04ha lúa, năng suất bình quân đạt 63,5 tạ/ha, sản lượng trên 7.074 tấn; lợi nhuận ước đạt 40 - 45 triệu đồng/ha/vụ, chưa tính chi phí công lao động. Vụ Mùa có diện tích 1.430,35ha. Cây lúa vẫn giữ vai trò quan trọng trong bảo đảm lương thực và tạo nguồn thu cho nhiều hộ dân. Tuy nhiên, thay vì chỉ dựa vào cây lúa, người dân các bản Ló, Bánh, Pe Luông, Bó và các thôn Hưng Thịnh, Mỹ Hưng, Thái Hòa, Việt An… đang chuyển một phần diện tích sản xuất kém hiệu quả sang rau màu, cây ăn quả và cây có giá trị kinh tế cao. Hiện toàn xã có 377,74ha cây ăn quả các loại, sản lượng trung bình khoảng 2.266 tấn; lợi nhuận ước đạt 80 - 150 triệu đồng/ha/năm. Chăn nuôi tiếp tục được duy trì với 15.584 con gia súc và 404.909 con gia cầm. Một trong những hộ khai thác khá hiệu quả lợi thế vùng thấp là gia đình bà Hà Thị Hiền, Thôn 13. Không chỉ sản xuất rau màu, nuôi thủy sản, bà Hiền còn là tổ trưởng tổ hợp tác sản xuất rau màu có quy mô trên 2ha. Năm 2025 - 2026, gia đình tiếp tục tham gia mô hình nuôi thử nghiệm cá chép TaTa thương phẩm. Mô hình cho thấy khả năng kết hợp nhiều loại hình sinh kế để tạo thêm nguồn thu thay vì phụ thuộc vào một loại cây trồng.
Nếu vùng thấp lấy đồng ruộng, rau màu, cây ăn quả và chăn nuôi làm nền tảng thì ở vùng cao, cà phê và mắc ca đang mở ra hướng sản xuất hàng hóa dài hạn. Các khu vực Nậm Ty, Pá Sáng, Co Pục, Tâu, Nà Hý, Nà Lốm, Hồng Lạnh… có điều kiện đất đai, khí hậu phù hợp với hai loại cây này. Đến nay, toàn xã có 194,5ha cà phê, trong đó trên 48ha đã bước vào kinh doanh; diện tích mắc ca đạt 411,2ha, phần lớn đang trong giai đoạn kiến thiết cơ bản. Đáng chú ý, năm 2026, diện tích cà phê trồng mới đạt 96,3ha, bằng 160,5% kế hoạch tỉnh giao; diện tích mắc ca trồng xen đạt 126,23ha, bằng 210,4% kế hoạch. Kết quả này cho thấy người dân vùng cao đã từng bước nhìn thấy triển vọng chuyển những diện tích nương sản xuất hiệu quả thấp sang cây trồng có giá trị kinh tế cao. Ở bản Pá Sáng, gia đình ông Vừ A Hồng là một trong những hộ đi đầu phát triển cà phê, hiện đã trồng và chăm sóc hơn 2ha. Với vai trò trưởng bản Xá Nhù trước đây, ông Hồng còn vận động người dân trong bản tham gia trồng cà phê. Đến năm 2026, diện tích cà phê của người dân Xá Nhù đã đạt 37ha. Cây cà phê đang dần hình thành vùng sản xuất tập trung, tạo cơ sở cho liên kết sản xuất và tiêu thụ sản phẩm.
Theo ông Chu Văn Bách, Chủ tịch UBND xã Thanh Nưa, mục tiêu cuối cùng của việc tổ chức lại sản xuất là nâng cao đời sống và thu nhập cho người dân. Địa phương xác định không phát triển cây trồng theo phong trào mà lựa chọn mô hình phù hợp từng khu vực; hỗ trợ người dân tiếp cận khoa học kỹ thuật, thay đổi phương thức canh tác, từng bước chuyển từ sản xuất nhỏ lẻ sang sản xuất hàng hóa.
Theo quy hoạch chung, Thanh Nưa được định hướng thành 2 vùng sản xuất. Trong đó, 12/37 thôn, bản vùng cao tập trung phát triển cây dài ngày như cà phê, mắc ca, chanh leo; 25/37 thôn, bản vùng thấp phát triển lúa gạo, cây hàng năm, rau màu, hoa, cây cảnh theo hướng ứng dụng công nghệ cao và liên kết sản xuất theo chuỗi giá trị. Đến năm 2030, xã đặt mục tiêu phát triển 200ha cà phê, 1.000ha mắc ca, 30ha chanh leo, 700ha rau màu và 50ha dứa. Nâng cao thu nhập cũng không chỉ giới hạn trong nông nghiệp. Đối với các công trình, dự án triển khai trên địa bàn, xã tạo điều kiện để lao động địa phương tham gia, có thêm việc làm và nguồn thu ngoài ruộng, nương. Với những gia đình ít đất sản xuất, nguồn thu này góp phần cải thiện đời sống, giảm phụ thuộc vào nông nghiệp. Cùng với tổ chức lại sản xuất, Thanh Nưa xác định hạ tầng phải đi trước một bước. Giao thông thuận lợi giúp vật tư đến vùng sản xuất và nông sản ra thị trường dễ dàng hơn; hệ thống thủy lợi giúp người dân chủ động mùa vụ, tăng khả năng thâm canh, luân canh. Trong điều kiện nguồn lực còn hạn chế, địa phương ưu tiên những công trình vừa đáp ứng nhu cầu dân sinh, vừa trực tiếp phục vụ sản xuất.
Từ lợi thế khác nhau của 5 xã trước đây, Thanh Nưa đang định hình một không gian sản xuất chung nhưng không đồng nhất về cách làm: Vùng thấp nâng giá trị trên đồng ruộng, vườn và mặt nước; vùng cao phát triển cây lâu năm có giá trị; những hộ ít đất tìm thêm sinh kế ngoài nông nghiệp. Từ hơn 2ha rau màu của gia đình bà Hà Thị Hiền đến 2ha cà phê của ông Vừ A Hồng và 37ha cà phê được người dân Xá Nhù hưởng ứng trồng, hướng phát triển ấy đang hiện hữu bằng những mô hình cụ thể. Khi lợi thế đất đai, lao động được chuyển thành sản phẩm và thu nhập thực tế, đó cũng là nền tảng để Thanh Nưa nâng cao đời sống người dân và xây dựng nông thôn mới bền vững.