Đừng để khác biệt thành lực cản
Hệ lụy của những khoảng cách ấy không phải điều xa vời, mà có thể nhận diện từ chính những thay đổi trong đời sống cộng đồng. Ở bản Pa Bói, xã Thanh Yên, điều đó thể hiện khá rõ. Bản Pa Bói được thành lập trên cơ sở sáp nhập 3 bản: Hoàng Yên, Pa Bói và Yên Sơn cũ từ ngày 1/7/2026. Từ những cộng đồng vốn có đặc điểm dân cư, văn hóa khác nhau, nay 297 hộ với hơn 1.100 nhân khẩu thuộc 8 dân tộc: Kinh, Thái, Dao, Mông, Khơ Mú, Nùng, Tày, Thổ cùng sinh sống trên một địa bàn.
Khi còn là những cộng đồng riêng biệt, mỗi bản có quy mô dân cư nhỏ, người dân phần lớn quen biết nhau, các công việc chung chủ yếu được bàn bạc và thực hiện trong phạm vi cộng đồng vốn đã gắn bó từ lâu. Nhưng sau sáp nhập, không gian cộng đồng được mở rộng, thành phần dân cư đa dạng hơn, những cách nghĩ, cách làm và thói quen sinh hoạt cũng trở nên phong phú hơn. Từ đó, sự gắn kết giữa các dân tộc khó khăn hơn.
Một câu chuyện nhỏ ở bản Pa Bói cho thấy khá rõ khoảng cách ấy. Sau sáp nhập, bản vận động mỗi hộ đóng góp 10.000 đồng để ủng hộ nhà trường mua cây trồng. Số tiền không lớn, mục đích cũng là một việc chung, nhưng lời vận động chưa nhận được sự hưởng ứng. Trong tổng số 297 hộ của bản, chỉ có 2 hộ tham gia đóng góp. Theo chị Nông Thị Thương Hằng, Bí thư Chi bộ bản Pa Bói, sự khác biệt ấy càng dễ nhận thấy khi so với thời điểm các cộng đồng còn sinh hoạt riêng. Trước khi sáp nhập, chị là Chi hội trưởng Chi hội Nông dân bản Yên Sơn. Khi triển khai chủ trương làm đường bê tông nội bản, khi có chủ trương, người dân Yên Sơn đã tự nguyện hiến hàng nghìn mét vuông đất, đóng góp hàng trăm triệu đồng, bình quân khoảng 700.000 đồng/người; có gia đình góp gần 10 triệu đồng. Nhờ sự chung sức ấy, 100% đường nội bản Yên Sơn cũ được bê tông hóa.
Cũng theo chị Hằng, sau sáp nhập, khó khăn không chỉ nằm ở việc tổ chức các hoạt động chung mà còn ở cách tạo đồng thuận để đưa những chủ trương, nhiệm vụ mới vào thực tiễn. Đội ngũ lãnh đạo bản chủ yếu là người trẻ, trong khi một bộ phận người cao tuổi vẫn có tâm lý thận trọng, chưa đồng tình với cách tổ chức, điều hành mới do đã quen với nếp sinh hoạt và cách làm trước đây. Có những việc cán bộ trẻ thấy phù hợp, thuận tiện, nhưng người dân lớn tuổi lại chưa thấy thuyết phục. Vì vậy, để tăng cường đoàn kết dân tộc, chi bộ, bản đã xác định phải kiên trì lắng nghe, giải thích, vận động, để từng bước tạo đồng thuận giữa các dân tộc. Đặc biệt, từng đồng chí đảng viên phải phát huy vai trò tiên phong, gương mẫu đi đầu.
Bản Huổi Pinh, xã Mường Toong được sáp nhập trên cơ sở bản Huổi Pinh và Huổi Đanh cũ, với 159 hộ dân, chủ yếu là đồng bào Mông, Khơ Mú. Là bản đặc biệt khó khăn của tỉnh, tỷ lệ hộ nghèo cao, nên yêu cầu tập hợp, vận động người dân cùng thay đổi phương thức sản xuất, nâng cao thu nhập càng trở nên cấp thiết. Tuy nhiên, sự khác biệt về phong tục, tập quán và thói quen sinh hoạt khiến một số hoạt động chung người dân chưa tham gia đồng đều; việc thực hiện quy ước của bản chưa thực sự đi vào nền nếp. Trong đời sống, một số gia đình vẫn giữ khoảng cách với các cộng đồng dân tộc khác.
Đáng nói, những biểu hiện này
không chỉ xuất hiện sau sáp nhập mà đã tồn tại từ trước. Ông Hầu A Dành, người
dân bản Huổi Pinh cho rằng, có những thời điểm người dân nghe nhiều thông tin
khác nhau nên không biết đâu là đúng, đâu là sai. Khi chưa được giải thích rõ,
nhiều người thường chọn cách nghe theo người quen hoặc những người mình tin tưởng,
từ đó dễ nảy sinh tâm lý lo lắng. Bởi vậy, có
thời điểm một số hộ không cho con cháu tiêm vắc xin phòng Covid-19,
hoặc thực hiện chủ trương huy động sức dân đóng góp trong xây dựng nông
thôn mới chưa được người dân cực hưởng ứng.
Theo ông Thào Seo Sình, Bí thư Chi bộ bản Huổi Pinh, sự thiếu gắn kết ấy không chỉ ảnh hưởng đến đời sống cộng đồng mà còn có thể trở thành lực cản đối với phát triển. Có năm trên địa bàn bản xuất hiện tình trạng người dân nghe lời kẻ xấu bán tống bán tháo trâu bò, gia cầm, thậm chí cả đất sản xuất. Thế nhưng thay vì cải thiện cuộc sống, một số hộ lại rơi vào cảnh khó khăn hơn, mất đi tư liệu sản xuất và nguồn sinh kế. Những hệ lụy ấy cho thấy, khi người dân thiếu thông tin, thiếu sự chia sẻ và điểm tựa, những khoảng cách vô hình rất dễ bị lợi dụng, thậm chí phải trả giá bằng chính sinh kế của mình.
Những câu chuyện trên cho thấy, đưa một chủ trương vào cuộc sống không chỉ cần chủ trương đúng mà còn cần sự đồng thuận của người dân. Sáp nhập địa giới có thể hoàn thành trong một quyết định, nhưng để những cộng đồng vốn quen với không gian sinh hoạt riêng thực sự hòa nhập cần một quá trình lâu dài. Điều này càng đáng lưu ý khi Điện Biên có 888 thôn, bản, tổ dân phố; 100% nằm ở khu vực miền núi, trong đó 818 thuộc vùng đồng bào dân tộc thiểu số và 632 thuộc diện đặc biệt khó khăn. Những con số ấy cho thấy, bài toán sau sáp nhập không chỉ là sắp xếp địa giới, tổ chức bộ máy, mà còn là hóa giải khác biệt, thu hẹp khoảng cách và tạo đồng thuận để cùng phát triển. Đặc biệt, vấn đề càng cần được nhìn nhận thận trọng khi đây là tỉnh biên giới tiếp giáp với Lào và Trung Quốc. Ở những địa bàn này, mọi khoảng trống về thông tin và nhận thức đều có thể tạo thêm những yếu tố phức tạp về an ninh chính trị.
Khoảng trống nhỏ, nguy cơ không nhỏ
Không chỉ trở thành lực cản phát triển, những khoảng cách ấy còn có thể tạo “kẽ hở” để thông tin sai lệch, luận điệu xuyên tạc tác động đến nhận thức, làm suy giảm niềm tin và gây chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân, từng bước làm suy giảm niềm tin của nhân dân. Điều này đã từng xảy ra trên địa bàn tỉnh.
Trường hợp anh Vàng A Sình, người dân tộc Mông ở bản Huổi Khon, xã Nậm Kè, cho thấy những khoảng trống ấy có thể bị tác động như thế nào. Năm 2019, từng bỏ đạo Tin lành để theo tà đạo “Bà cô Dợ”, anh Sình cho biết những lời hứa hẹn về một cuộc sống tốt đẹp hơn, được các đối tượng liên tục truyền vào suy nghĩ, đã khiến anh tin theo. Nhưng sau đó, cuộc sống gia đình không những không được cải thiện mà ngày càng khó khăn, bố mẹ đau ốm không có tiền chữa bệnh, ruộng nương bỏ bê. Từ chỗ tin rằng mình đang lựa chọn một con đường khác, anh Sình và các thành viên trong gia đình dần xa cách cộng đồng.
Câu chuyện của anh Sình cho thấy, những luận điệu sai trái có thể len vào đời sống từ những điều rất gần gũi như, một hoàn cảnh khó khăn, phong tục chưa được giải thích, nhu cầu tinh thần chưa được đáp ứng hay tâm lý mặc cảm, tự ti. Nếu không được kịp thời giải đáp, những băn khoăn ấy dễ bị lợi dụng, bóp méo và dẫn dắt theo hướng khác. Từ nhận thức của một cá nhân, thông tin lệch lạc có thể lan rộng, tạo khoảng cách giữa người dân và cộng đồng, giữa các cộng đồng với nhau.
Trường hợp của anh Cháng A Sùng, bản Co Đứa, xã Na Sang cũng là điển hình. Từng tin theo tà đạo “Bà cô Dợ”, anh Sùng hiểu hơn ai hết việc một thông tin được tiếp nhận thiếu kiểm chứng có thể tác động đến suy nghĩ, niềm tin và đời sống của người dân như thế nào. Anh kể, năm 2017, thông qua mạng xã hội, anh biết đến tà đạo “Bà cô Dợ”. Những nội dung được truyền tải trên mạng ban đầu khiến anh tò mò, tìm hiểu. Đến tháng 1/2018, sau một thời gian tiếp cận, anh tin theo và dần thay đổi nhận thức theo hướng lệch chuẩn; thậm chí từ bỏ phong tục, tập quán dân tộc, chống đối các chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước.
Bước ngoặt đến vào năm 2023, khi anh Sùng dần nhận ra những điều được tuyên truyền không phù hợp với phong tục, tập quán của đồng bào Mông, thậm chí trái với giáo lý, giáo luật của các tôn giáo được Nhà nước công nhận. Qua thực tế cuộc sống, anh cũng nhận thấy việc đi theo tà đạo không giúp các gia đình thay đổi cuộc sống; nhiều hộ vẫn nghèo khó, kinh tế sa sút, gia đình phát sinh mâu thuẫn. “Càng tìm hiểu, tôi càng thấy những điều tuyên truyền không phù hợp với phong tục của dân tộc mình. Nhìn cuộc sống của các gia đình theo tà đạo, tôi cũng không thấy tốt hơn, nhiều nhà còn khó khăn, lục đục. Được cán bộ tuyên truyền, vận động, tôi hiểu ra và cùng gia đình quyết định từ bỏ tà đạo "Bà cô Dợ”, anh Sùng chia sẻ.
Từ những trường hợp trên cho thấy, củng cố niềm tin không thể chỉ bằng những cuộc tuyên truyền theo đợt, mà phải bắt đầu từ việc giải quyết những vấn đề cụ thể trong đời sống. Khi người dân thấy chính quyền thực sự quan tâm đến sinh kế, văn hóa, đời sống tinh thần; khi những phong tục, tập quán được tôn trọng và những khác biệt được nhìn nhận bằng thái độ cởi mở, họ sẽ có thêm cơ sở để tin tưởng, chia sẻ và đồng hành.
Đó cũng là cách để những khác biệt về dân tộc, ngôn ngữ, phong tục không bị biến thành khoảng cách. Trong một cộng đồng đa dân tộc, sự gắn kết không có nghĩa là xóa bỏ khác biệt, mà là tạo đủ không gian để các cộng đồng hiểu nhau, tôn trọng nhau và cùng hướng đến những lợi ích chung. Khi niềm tin được củng cố, thông tin được thông suốt và người dân thực sự được tham gia vào các công việc chung, những “kẽ hở” sẽ được lấp đầy, sức mạnh cộng đồng được quy tụ và những khác biệt sẽ trở thành nét đa dạng làm giàu thêm đời sống, thay vì trở thành lực cản đối với phát triển.
Văn Tâm
Bài 3: Gắn những “mảnh ghép” thành một cộng đồng