Gốc có vững cây mới bền
Lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc ta cho thấy, khi “lòng dân thuận” thì nước mạnh, “lòng dân ly tán” thì nước yếu. Nguyễn Trãi từng đúc kết “việc nhân nghĩa cốt ở yên dân”; Hưng Đạo Đại vương Trần Quốc Tuấn coi “khoan thư sức dân để làm kế sâu rễ, bền gốc” là thượng sách giữ nước. Kế thừa bài học lịch sử, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta trong mọi thời đại luôn xác định nhân dân là nền tảng, là chủ thể của sự nghiệp cách mạng. Người khẳng định: “Nước lấy dân làm gốc”, “Gốc có vững cây mới bền”; sức mạnh của cách mạng bắt nguồn từ việc tập hợp, đoàn kết và phát huy sức dân.
Để “lòng dân thuận”, trước hết phải củng cố sự đoàn kết giữa các cộng đồng dân cư. Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt coi trọng đoàn kết dân tộc, đoàn kết tôn giáo. Người khẳng định: “Đồng bào Kinh hay Thổ, Mường hay Mán, Gia Rai hay Ê Đê, Xê Đăng hay Ba Na và các dân tộc thiểu số khác, đều là con cháu Việt Nam, đều là anh em ruột thịt. Chúng ta sống chết có nhau, sướng khổ cùng nhau, no đói giúp nhau”. Tư tưởng ấy là nền tảng quan trọng được tỉnh Điện Biên kiên trì thực hiện trong suốt quá trình xây dựng và phát triển.
Nậm Kè là xã biên giới, từng là địa bàn phức tạp về dân tộc, tôn giáo, với vụ việc tập trung đông người đòi thành lập “Nhà nước Mông” tại bản Huổi Khon năm 2011. Nhiều dân tộc cùng sinh sống càng đặt ra yêu cầu phải củng cố đoàn kết từ cơ sở, lấy sự đồng thuận và lợi ích của người dân làm nền tảng. Sau sáp nhập, cấp ủy, chính quyền xã chú trọng xây dựng đội ngũ cán bộ gần dân, hiểu dân, am hiểu phong tục, tập quán từng cộng đồng.
Bà Nguyễn Thị Yến, Trưởng ban Xây dựng Đảng xã Nậm Kè cho biết, muốn tạo đồng thuận phải bắt đầu từ việc lắng nghe và giải quyết những vấn đề người dân quan tâm. Cấp ủy, chính quyền tăng cường xuống cơ sở, tuyên truyền phù hợp từng nhóm dân cư, để người dân được biết, được trao đổi và cùng tham gia thực hiện. Những nơi hạn chế tiếng phổ thông được huy động người am hiểu ngôn ngữ, phong tục để truyền đạt đầy đủ, dễ hiểu. Khi cán bộ gần dân, hiểu dân và mọi chủ trương xuất phát từ thực tế đời sống, sự đồng thuận sẽ được xây dựng từ chính lòng dân.
Từ cách làm đó, sau khi sắp xếp, số thôn, bản của xã giảm từ 21 xuống còn 14. Đến nay, hoạt động ở các bản cơ bản ổn định; những vấn đề liên quan đến tổ chức cộng đồng, quyền lợi và trách nhiệm của người dân được trao đổi công khai, tạo điều kiện để các dân tộc hiểu nhau hơn, cùng tham gia và chia sẻ trách nhiệm trong những công việc chung.
Bản Nậm Đích, xã Mường Chà, được thành lập từ bản Hô Hài và Nậm Đích cũ. Trước sáp nhập, Hô Hài có 100% người dân theo đạo Tin Lành, trong khi Nậm Đích có khoảng 30% số hộ theo tôn giáo. Khác biệt về đời sống tín ngưỡng từng khiến một bộ phận người dân e ngại khi về chung một bản. Nắm được tâm lý đó, Chi bộ không tìm cách xóa bỏ khác biệt mà tập trung tuyên truyền, lắng nghe, giải thích những vấn đề liên quan quyền lợi, nghĩa vụ và sinh hoạt tín ngưỡng, đồng thời vận động người dân thực hiện đúng chủ trương, chính sách, pháp luật.
Ông Vàng A Hồ, Bí thư Chi bộ bản Nậm Đích chia sẻ: Sau sáp nhập, chi bộ, ban quản lý bản xác định mọi việc phải xuất phát từ lợi ích, nguyện vọng của người dân; để bà con được biết, được bàn, cùng thống nhất và thực hiện. Chi bộ không đặt nặng sự khác biệt về phong tục, tín ngưỡng, mà tập trung vào những việc thiết thực như phát triển kinh tế, giữ gìn an ninh trật tự, chăm lo con cháu. Khi người dân thấy mình được tôn trọng, được làm chủ, được tham gia và thấy rõ lợi ích, khác biệt sẽ không còn là rào cản, sự đồng thuận sẽ tạo nên sức mạnh cộng đồng.
Cách làm ở Nậm Đích cho thấy, muốn “gốc” bền thì trước hết phải có một tổ chức Đảng đủ sức gần dân, hiểu dân và quy tụ nhân dân. Yêu cầu ấy càng rõ khi địa bàn dân cư được sắp xếp lại, không gian sinh sống rộng hơn, thành phần cộng đồng đa dạng hơn. Vì vậy, củng cố tổ chức Đảng ở cơ sở không chỉ là sắp xếp lại đầu mối, mà quan trọng hơn là làm cho mỗi chi bộ thực sự trở thành hạt nhân lãnh đạo, nơi tập hợp ý chí và tạo đồng thuận trong nhân dân.
Sau sắp xếp, toàn tỉnh có 888 chi bộ thôn, bản, tổ dân phố; trong đó 654 chi bộ có chi ủy, 63 chi bộ có bí thư và phó bí thư, 171 chi bộ chỉ có bí thư, cùng 701 phó bí thư chi bộ. Đội ngũ 26.893 đảng viên đang sinh hoạt tại các chi bộ cơ sở; trong đó, 5.535 đảng viên có trình độ chuyên môn từ đại học trở lên, 14.189 người có trình độ THPT và 9.123 người có trình độ THCS. Không chỉ là nguồn lực về tổ chức, đây còn là lực lượng trực tiếp tạo dựng niềm tin, vận động nhân dân và giữ nhịp gắn kết trong cộng đồng.
Tuy nhiên, ở những bản đa dân tộc, để thực sự trở thành cầu nối, người cán bộ còn phải gần dân, hiểu phong tục, biết lắng nghe và có uy tín. Bởi vậy, kiện toàn tổ chức Đảng mới chỉ là bước đầu. Điều quan trọng là làm cho chi bộ thực sự trở thành điểm tựa để người dân tin tưởng, các cộng đồng tìm được tiếng nói chung, cùng tham gia và cùng chia sẻ trách nhiệm trong đời sống. Khi lòng dân đã thuận, tổ chức Đảng vững mạnh và cộng đồng đoàn kết, đó chính là nền tảng để phát triển bền vững.
Gắn kết những khác biệt
Sau sáp nhập, những cộng đồng vốn có sự khác biệt về dân tộc, phong tục, tập quán cùng đứng trong một không gian dân cư mới. Vì vậy, để những “mảnh ghép” ấy thực sự gắn kết, không thể chỉ dừng ở việc tổ chức lại địa giới, bộ máy mà phải từng bước hình thành sự đồng thuận và ý thức về một cộng đồng chung.
Thực tế tại bản Huổi Thanh 1, xã Nậm Kè cho thấy, để những “mảnh ghép” khác nhau trở thành một cộng đồng thống nhất, trước hết phải tạo được những việc chung để người dân cùng tham gia. Bản có 100 hộ, 692 nhân khẩu, gồm 3 dân tộc Dao, Sán Chay và Mông. Chi bộ phân công đảng viên bám từng nhóm dân cư, thường xuyên gặp gỡ, nắm tâm tư, giải thích những vấn đề còn băn khoăn; đồng thời vận động người dân cùng tham gia các công việc chung. Từ vệ sinh đường bản, giữ gìn an ninh trật tự, xây dựng đời sống văn hóa đến các hoạt động cộng đồng, người Dao, Sán Chay, Mông đều được bàn bạc, phân công và cùng thực hiện. Qua đó tạo cơ hội gặp gỡ, chia sẻ và hiểu nhau và cùng đóng góp công sức, cùng chịu trách nhiệm trước những vấn đề chung.
Sự gắn kết ấy được thể hiện ngay trong những cuộc họp bản, Ngày hội Đại đoàn kết toàn dân tộc. Gia đình nào vắng mặt, bất kể thuộc dân tộc nào, đảng viên được phân công phụ trách phải đến tận nhà tìm hiểu nguyên nhân, vận động và hỗ trợ khi cần thiết. Đối với việc triển khai các chương trình, chính sách, Chi bộ cũng tổ chức họp dân, lắng nghe ý kiến, giải thích những điểm chưa thống nhất để cùng tìm tiếng nói chung. Ông Đặng Văn Néng, Trưởng bản Huổi Thanh 1 cho biết, từ những việc chung ấy, người dân các dân tộc từng bước hình thành ý thức cùng là thành viên của bản, cùng đóng góp và chia sẻ trách nhiệm. Nhờ đó, Huổi Thanh 1 ngày càng đoàn kết cùng phát triển và góp phần bảo vệ vững chắc đường biên, mốc giới.
Từ cách làm đó, chi bộ từng bước gắn kết những khác biệt về dân tộc, phong tục thành một cộng đồng thống nhất. Đoàn kết ở Huổi Thanh 1 vì thế không bắt đầu từ những điều lớn lao, mà được tạo dựng từ những cuộc họp dân, những công việc chung và sự kiên trì kết nối từng nhóm hộ. Khi mỗi cộng đồng đều được tôn trọng và có tiếng nói trong việc chung, “mảnh ghép” riêng không mất đi mà cùng góp phần dựng nên một cộng đồng chung. Ông Mùa Vừ Sếnh, người dân tộc Mông, chia sẻ: “Bây giờ có việc của bản, người Dao, người Sán Chay, người Mông đều cùng tham gia. Việc chung thì cùng làm, có khó khăn thì cùng chia sẻ. Mình khác nhau về phong tục nhưng đều mong bản bình yên, ngày càng phát triển”.
Bản Nong Sẳng, xã Nà Tấu được thành lập trên cơ sở sáp nhập bản Nong và bản Sẳng cũ, với 4 dân tộc chủ yếu Kinh, Thái, Mông, Khơ Mú. Để người dân thực sự coi bản mới là ngôi nhà chung, Chi bộ xác định trước hết phải tháo gỡ những khác biệt trong đời sống cộng đồng: Lễ cúng bản, ngày hội, việc cưới, việc tang, bảo vệ rừng, nguồn nước hay gìn giữ tiếng nói dân tộc. Từ đó, Chi bộ tổ chức lấy ý kiến nhân dân, đồng thời phân công đảng viên xuống từng hộ nắm tâm tư, giải thích những vấn đề chưa rõ và ghi nhận cả những băn khoăn người dân.
Theo ông Lò Văn Tươi (dân tộc Thái), Trưởng bản Nong Sẳng, sau sáp nhập, Chi bộ xác định xây dựng hương ước là một trong những việc quan trọng để tạo sự thống nhất trong cộng đồng. Mục tiêu không phải xóa bỏ phong tục của các dân tộc mà lựa chọn những giá trị phù hợp để cùng thực hiện. Vì vậy, bản tổ chức lấy ý kiến nhân dân, thống nhất các quy định chung về nếp sống văn hóa, bảo vệ môi trường, an ninh trật tự, xây dựng bản làng và phát triển du lịch cộng đồng, đồng thời chú trọng bảo tồn bản sắc dân tộc. Qua đó, hương ước trở thành sự thống nhất chung, tạo nền tảng để người dân các dân tộc cùng tham gia xây dựng bản.
Những quy định về bảo tồn nhà sàn, gìn giữ tiếng nói, trang phục truyền thống hay duy trì lễ hội bản địa được đưa vào hương ước, vừa góp phần giữ gìn bản sắc. Ông Sùng A Và (dân tộc Mông) bản Nong Sẳng, chia sẻ: Khi người dân được trực tiếp góp ý, các quy định trở nên gần gũi, dễ thực hiện hơn. Mỗi dân tộc có phong tục riêng, nhưng giữ gìn đường bản, vệ sinh môi trường, cảnh quan và xây dựng đời sống văn hóa đều là trách nhiệm chung. Từ những quy định chung, người dân dần hình thành và từng bước gắn bó, chung tay xây dựng bản.
Từ Huổi Thanh 1 đến Nong Sẳng cho thấy, sáp nhập thôn, bản chỉ thực sự có ý nghĩa khi tạo được sự gắn kết trong cộng đồng. Địa giới có thể thay đổi, nhưng để người dân thực sự coi nhau là một cộng đồng cần quá trình bền bỉ. Trong đó, chi bộ phải trở thành nơi tập hợp các nhóm dân cư, lắng nghe khác biệt và tìm điểm chung để cùng hành động. Đó cũng là cách để những “mảnh ghép” không bị hòa tan sau sáp nhập. Mỗi dân tộc vẫn giữ bản sắc riêng, nhưng khi bản có việc chung, mọi người đều có tiếng nói, trách nhiệm và cùng hưởng lợi. Khi ấy, khác biệt không còn là rào cản mà trở thành một phần làm nên cộng đồng đa dạng, đoàn kết và cùng phát triển.
Văn Tâm
Bài 4: Khi lòng dân đã thuận